Bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án hình sự

Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án hình sự có mức án tử hình.
Hình phạt tử hình được đặt ra nhằm tước đoạt đi mạng sống của người bị tuyên án tử hình. Đây được xem là mức hình phạt nặng nhất đối với người phạm tội. Ngoài hình phạt tử hình người phạm tội còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự. Nếu người này có hành vi gây thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân. Vậy bị kết án tử hình thì có phải bồi thường thiệt hại dân sự như thế nào?
1. Thế nào là tử hình?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật Hình sự quy định.
2. Có bồi thường thiệt hại không khi bị kết án mức hình phạt tử hình?
Trong trường hợp người có hành vi phạm tội bị kết án tử hình nhưng hành vi của người phạm tội gây thiệt hại nghiêm trọng. Liên quan tới quyền lợi, lợi ích, xâm phạm đến tài sản, thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,… của nạn nhân thì phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân, thân nhân của họ theo bản án.
Căn cứ tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
– Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Như vậy, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự của người phạm tội. Không phụ thuộc hình phạt mà tòa án áp dụng đối với họ. Nói các khác, họ bị tuyên phạt tử hình thì họ vẫn phải bồi thường thiệt hại mà đã gây ra. Trong một số trường hợp, nếu người phạm tội được Chủ tịch nước ân xá từ tử hình xuống còn chung thân. Việc họ chấp hành xong phần bồi thường thiệt hại dân sự sẽ là một trong những điều kiện để cơ quan có thẩm quyền xem xét, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho họ. Đây là vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
Xem thêm:
Quy định về tách thửa mới nhất.
Trường hợp bị kết án tử hình, người phạm tội có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì thực hiện Luật Thi hành án dân sự.
Theo đó, người phải thi hành án có thời hạn 10 ngày để tự nguyện thi hành án. (kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án).
Nếu hết thời hạn này, họ không tự nguyện thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành án. Căn cứ Luật Thi hành cơ quan thi hành án có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau:
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
3. Thân nhân của người bị kết án tử hình có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại không
Trong trường hợp người phạm tội không tự nguyện bồi thường hoặc không có điều kiện để bồi thường. Người thân của người phạm tội không có nghĩa vụ bồi thường thay cho người phạm tội.
Tuy nhiên, việc người thân tự nguyện bồi thường thay một phần hoặc toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cụ thể theo điểm a, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
– Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.
– Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
Trường hợp phải đối mặt án tử hình mà người thân bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Người phạm tội có thể nhận được sự khoan hồng của Nhà nước.
4. Trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình hoặc thi hành án tử hình
Trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình:
Người phạm tội nếu thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình, với những đối tượng cụ thể như sau:
– Người dưới 18 tuổi khi phạm tội;
– Phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử;
– Người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
Trường hợp không thi hành án tử hình:
Tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
– Người đủ 75 tuổi trở lên;
– Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
DỊCH VỤ HỖ TRỢ

